Tầm quan trọng của đọc và nghe

Khi nói bằng tiếng mẹ đẻ, bạn không cần phải suy nghĩ về ngữ pháp hay từ vựng mà bạn sử dụng. Bạn nói theo bản năng của mình. Thực ra, bộ não của bạn đang sử dụng chính những câu mà bạn đã nhìn thấy, hoặc đã nghe thấy. Nếu bạn muốn nói tiếng Anh một cách trôi chảy như người bản xứ, bạn cũng phải học nó theo cách mà bạn đã học tiếng mẹ đẻ của bạn.  

Đọc và nghe là hai kĩ năng sẽ giúp bạn phát triển khả năng cảm thụ ngôn ngữ. Chúng giúp bạn phát hiện và ghi nhớ rất nhiều câu nói, nhiều từ vựng. Sau đó, bộ não của bạn có thể bắt chước và bạn có thể nói ra những gì mà bạn suy nghĩ một cách chính xác, về cả cách dùng từ cũng như ngữ pháp. Nếu bạn đọc và nghe nhiều, đặc biệt để ý tới những từ ngữ hay dùng, bạn sẽ nhanh chóng áp dụng được những từ mới hay cấu trúc mới vào nói và viết. Không chỉ có vậy, nó còn giúp bạn phát huy khả năng trực giác khi học tiếng. Bạn sẽ bắt đầu cảm nhận được câu nào nói đúng, câu nào nói có vẻ sai – giống như bạn có thể làm với tiếng mẹ đẻ của mình. Học tiếng bằng nghe và đọc có vẻ như mất nhiều thời gian hơn, khác với việc học dựa trên các quy tắc ngữ pháp. Ví dụ, để có cảm nhận tốt hơn về cách sử dụng của các quán từ trong tiếng Anh bạn cần đọc nhiều câu, phân tích chúng một cách cẩn thận. Liệu cách này có giúp bạn dễ nhớ hơn cách học một bài về quán từ trong một quyển sách ngữ pháp không? Vấn đề là, sẽ mất rất nhiều thời gian để viết một câu khi mà bạn luôn luôn phải nhớ đến các quy tắc ngữ pháp. Nếu bạn nói chuyện với ai đó, bạn sẽ không có thời gian để làm việc này. Phương pháp học tiếng bằng nghe và đọc dường như đòi hỏi khắt khe hơn, cần nhiều thời gian hơn, nhưng đó là cách duy nhất để đạt được độ chính xác và lưu loát trong học tiếng. Dưới đây, tôi sẽ trình bày rõ hơn những thuận lợi của phương pháp học này.

 Đọc

·         Tốc độ đọc

Nếu bạn đã từng tham gia bất kì một khoá học tiếng Anh nào, giáo viên cũng yêu cầu bạn phải đọc lướt một đoạn văn, và sau đó làm các bài tập liên quan tới bài đọc đó. Đây cũng là một trong những dạng bài mà bạn phải làm trong các kì thi, hay các kì kiểm tra. Đa số giáo viên đều khuyến khích học sinh đọc nhanh nhất mà chúng có thể, chỉ để nắm được những ý chính của đoạn thôi. Có lẽ bạn cho rằng việc đọc như vậy sẽ nâng cao được kĩ năng tiếng của bạn (bởi vì bạn đang đọc) và đang chuẩn bị cho một bài thi (bởi vì bạn đang làm bài tập). Nhưng thật ra, đọc theo cách này không những là không giúp ích gì cho việc học của bạn mà nó còn làm chậm tiến trình học của bạn. Khi đọc bằng tiếng mẹ đẻ, bạn đọc để nắm được nội dung. Bộ não của bạn tập trung vào những từ khoá truyền tải ý nghĩa của đoạn văn. Bằng cách này bạn có thể đọc nhanh hơn. Nhưng khi bạn đọc bằng ngoại ngữ thì lại khác. Bạn vừa phải tập trung vào ngữ pháp vừa phải phân tích các câu ấy để tìm ra những cái hay, những cụm từ hay các cách diễn đạt hay mà bạn nên học hỏi.

·         Đọc cái gì?

Điều quan trọng là nội dung mà bạn đang đọc phải thực sự làm bạn cảm thấy hứng thú. Bạn không nhất thiết phải đọc một cuốn tiểu thuyết dài và khó hiểu. Bạn có thể đọc truyện hài, truyện trinh thám hay truyện ngụ ngôn, miễn là nó phù hợp với sở thích của bạn. Nếu bạn mới chỉ bắt đầu học tiếng Anh, bạn không nên chọn những tài liệu quá khó. Tất nhiên, đôi khi bạn cũng nên chọn một tài liệu hấp dẫn để đọc để thúc đẩy việc học của bạn. Tuy nhiên, bạn nên dành phần lớn thời gian để đọc những bài viết đơn giản và dễ hiểu. Dành thời gian tìm kiếm những tài liệu vừa thú vị, hấp dẫn bạn nhưng đồng thời cũng vừa phải đơn giản nữa. Phải ghi nhớ rằng, nội dung bài đọc phải thực sự làm bạn hứng thú. Nếu bạn tìm thấy một mẩu truyện cười hay một bài báo nhàm chán, hãy bỏ nó đi và tìm một bài khác để đọc. Cố gắng tìm kiếm những tài liệu liên quan đến bộ môn mà bạn thích, chẳng hạn như bạn thích lập trình máy tính, bạn hãy kiếm những bài báo hay sách về các chương trình bằng tiếng Anh. Bạn cũng nên tham gia vào những cuộc thảo luận trực tuyến trong các forum tiếng Anh. Nhờ vậy, bạn không chỉ tăng thêm vốn hiểu biết của mình về bộ môn yêu thích của bạn mà còn cải thiện được môn tiếng Anh nữa.

Nghe

Kĩ năng nghe cũng quan trọng như kĩ năng đọc. Tuy khó hơn một chút nhưng nó cũng là một kĩ năng rất có lợi cho việc học tiếng Anh của bạn, giúp bạn nâng cao các kĩ năng phát âm và giao tiếp bằng tiếng Anh.

·         Nghe từ đầu (từ khi bắt đầu học)

Khi học ngoại ngữ, tốt hơn là bạn nên bắt đầu học nghe ngay khi bạn có thể. Qua việc nghe, bạn sẽ quen dần với những âm của ngôn ngữ. Học phát âm cũng nhờ vậy mà dễ dàng hơn đối với bạn. Nếu bạn là một người mới học tiếng Anh, hãy tìm những băng nghe có kèm bản ghi âm. Mỗi khi không hiểu một từ nào đó, hãy mở bản ghi âm đó và tra từ đó trong từ điển.

·         Nghe đi nghe lại nhiều lần cùng một nội dung Nghe đi nghe lại nhiều lần cùng một nội dung là rất tốt cho việc học tiếng của bạn. Chọn một băng hay và nghe đi nghe lại nhiều lần. Bạn phải chắc chắn rằng mình hiểu hết từng từ một trong đoạn băng đó. Trong quá trình nghe, hãy cố gắng ghi nhớ những câu sử dụng nhiều, hay thậm chí cả một đoạn. Sau đó luyện tập nói theo trí nhớ, bắt chước cách phát âm của người nói. Sau một thời gian, bạn sẽ thấy rằng những từ hay cụm từ trong đoạn băng đã trở thành từ của chính bạn. Bạn có thể sử dụng chúng trong chính những câu nói của bạn. Khả năng phát âm và kĩ năng nghe hiểu của bạn chắc chắn sẽ tiến bộ.

·         Nghe thường xuyên Hãy cố gắng nghe một cách thường xuyên, ngày nào cũng nghe. Lựa chọn tốt nhất là bạn nên có một cái máy nghe MP3. Với chiếc máy này, bạn có thể nghe ở bất kì đâu và nghe bất kì lúc nào. Bạn nên ghi những bài mà bạn thích vào một chiếc đĩa CD và luôn để nó trong máy MP3 của mình mỗi khi đi ra ngoài. Như vậy bạn có thể nghe mọi lúc và mọi nơi.

·         Nghe cái gì?

 Tìm những băng nghe vừa dễ hiểu nhưng cũng phải có ý nghĩa đối với bạn. Chọn những tài liệu theo chủ đề bạn yêu thích, chắc chắn rằng giọng nói của người nói trong băng dễ nghe. Bằng cách này, bạn sẽ thích nghe và chắc chắn là tiếng Anh của bạn sẽ tiến bộ hơn rất nhiều. Chúc các bạn học tốt tiếng Anh!

                                                                                                                                                 Hải Anh

Nhấn âm: điều quan trọng trong tập nói Tiếng Anh

Đọc bài viết “Nối từ trong tiếng Anh” của Triều xong, Dự muốn chia sẻ một kinh nghiệm trong học nói Anh Văn mà Dự nghĩ không kém phần quan trọng. Còn nhớ, sau khi chật vật một thời gian khó khăn trong nói Anh văn, nhất là khi chuẩn bị thi Tiếng Anh để làm TA, mình ngồi luyện cách nhấn âm được ít lâu thì thấy có tiến bộ hẳn ra (cái này là chuẩn xác 100% đó nghe vì mình thi đậu sau đó vài tháng). Điều quan trọng khi nói Tiếng Anh là mình cần nhấn đúng chỗ để tạo đúng nhịp điệu (intonation) .

Điều khác biệt cơ bản trong nói Tiếng Anh và Tiếng Việt:

Stress in words and sentences in English is totally different from that in Vietnamese

  • Stress in English
    kids1.gif
  • Nhấn âm trong Tiếng Việt
    soliders.gif

Stress in words

Hồi ở Indiana University Dự thường được nói chuyện với GS Lanh Trần, người đã ở xứ Mỹ khoảng trên dưới 40 năm. Thầy Lanh là một trong những người rất vui tính và có duyên trong ăn nói nên Dự có hỏi thầy về bí quyết để giao tiếp Anh văn sao cho có hiệu quả. Thầy Lanh trả lời liền: “word stress is one the most important key for nonnative speakers; as long as you stress on the right syllabus, they’ll understand you well”. Thầy đưa ra rất nhiều ví dụ mà nhấn từ không đúng thì sẽ hiểu lệch lạc ý, và sau đây là một số trường hợp:

  1. (a) Is it elementary? No, its advanced.
    (b) Is it a lemon tree? No, an orange tree.
  2. (a) Is that Europe? No, its Asia.
    (b) Is that your rope? No, its hers.
  3. (a) Whats in the desert? Sand.
    (b) Whats in the dessert? Sugar.
  4. (a)They grow flowers in the greenhouse. (a glass building which protects plants from bad weather.)
    (b). There are many flowers in the green house. (a house which is green-colored.)

Những trường hợp rồi đưa đến hiểu lầm nghiêm trọng. Còn đa số trong các trường hợp khác, nếu mình không nhấn đúng người nghe sẽ hoàn toàn không hiểu, đặc biệt là những người không quen giao tiếp với nonnative speakers. Thành ra khi học một từ mình phải nên học luôn cách phát âm, âm nhấn nằm ở đâu.

Mời các bạn thực hành nghe:

http://www.e-pron.com/esl/ws/ws.html

http://www.soundsofenglish.org/pronunciation/suprasegmentals/index.html

Stress in sentences (sentence intonation) :

Contain words, thường là danh từ hoặc động từ, là những từ cần được nhấn trong giao tiếp:

Ví dụ :

  • John wants to be an actor, and he wants to live in Hollywood.
  • The bus is ready.
  • Yeah, and Mom and Dad are waiting at the bus station.

Thực hành đọc các từ nhấn trong một câu là một điều tối quan trọng. Mời các bạn thực hành ở đây:

http://esl.about.com/od/speakingadvanced/a/sscripting.htm

English phonetics

Vừa mới được học một ít về English phonetic, thấy thầy dạy rất dễ hiểu nên post lên đây. Tạm thời chưa vẽ hình được.

Khái niệm cơ bản: Trước hết ta định nghĩa một số thuật ngữ người Mỹ dùng chỉ những bộ phận của khuôn mặt dùng vào nói tiếng Anh: (để hôm nào scan hoặc vẽ lại hình cho mọi người dễ hình dung)

Thuật ngữ: alveolar ridge (tính từ của nó là alveolar): chỉ phần vòm họng kề với răng

lips (tính từ labial) : môi

teeth (tính từ dental ): răng

hard palate (tính từ: palatal) : phần tiếp theo của vòm họng, cứng

soft palate hay velum (tính từ velar): phần sau của vòm họng, mềm

tongue (tính từ: lingua) : lưỡi

nasal cavity (tính từ: nasal) : đường ống từ miệng lên mũi

glottis (tính từ: glottal): đây là từ chỉ bộ phận quan trọng nhất cho việc phát âm. Bộ phận này nằm ngay cần cổ và thật sự là một vòng tròn. Trên vòng tròn đó có 2 màn mỏng (membrane), bình thường tách ra, nhưng khi ta nói thì hai màng mỏng này khép lại, không khí đi xuyên qua lỗ hở tạo dao động (vibration) từ đó phát ra âm thanh.

Ví dụ: Nguyên âm p đựoc gọi là labial stop voicedless. Đièu này có nghĩa là muốn phát âm p thì phải chận luồng không khí tại vị trí alveolar, một cách hoàn toàn (stop) , và không phát ra âm thanh (voicedless). Phần sau sẽ nói rõ hơn làm cách nào thực hiện được như vậy.

*********************************************************************

Updated on February 18, 2008

Cố gắng hoài nhưng vẫn không vẽ hình được, vậy nếu bạn nào thích tham khảo hình và cách phát âm từng từ thì vào đây:

http://www.uiowa.edu/~acadtech/phonetics/#

Dưới đây sẽ tiếp tục trình bày một số điểm trong phát âm tiếng Anh.

1) Phân biệt voice và voicedless như thế nào?

Có những cặp từ tiếng Anh mà khi phát âm thì lưỡi miệng,…có cùng vị trí, chỉ khác nhau ở voice hay là voicedless. Chẳng hạn như p/b, t/d… (xem thêm trong link ở trên).

Câu hỏi đặt ra là voicedless, nghĩa là không có âm, thì làm sao ta phát âm?

Vân đề là như sau: Khi chúng ta phát âm bình thường trong tiếng Việt thì hầu như mọi từ có thể xem như là voice trong tiếng Anh. Do đó khi người Việt phát âm chữ t, thì thường người Mỹ sẽ nghe giống như d.

Làm cách nào người Mỹ phát âm những âm voicedless? Trả lời: Đối với những âm voicedless thì người Mỹ dùng hơi thở để phát âm. Tức là không phát ra âm nhưng dùng luồng khí để tạo ra âm.

2) Từ tiếng Anh thường dài, làm cách nào họ đọc một từ tiếng Anh?

Trả lời: Chẳng hạn xét từ iteration. Khi người Mỹ đọc họ sẽ cắt nó ra thành nhữn phần nhỏ, mỗi phần thông thường có một phụ âm và một nguyên âm để dọc. Chẳng hạn từ trên sẽ được tách ra thành it-ter-ra-tion. Cho chi tiết chính xác từ nào được tách ra thế nào thì hãy xem từ điển.

*********************************************************************

Updated on February 24, 2008

Một câu hỏi thường gặp là tại sao người Mỹ nói nhanh như vậy? Chúng ta chỉ cần nhớ những từ sau khi nói tiếng Mỹ: thought group and focus word, linking, -ed and -s. Cuối cùng là convenience.

3) Thought group and focus word: Trước khi nêu định nghĩa và thực hành về thought group and focus word, tôi cho một ví dụ về thế nào là thought group: Xét đoạn văn sau

For example, if one note has a frequency of 400 Hz, the note an octave above it is at 800 Hz, and the note an octave below is at 200 Hz. The ratio of frequencies of two notes an octave apart is therefore 2:1. Further octaves of a note occur at 2n times the frequency of that note (where n is an integer), such as 2, 4, 8, 16, etc. and the reciprocal of that series. For example, 50 Hz and 400 Hz are one and two octaves away from 100 Hz because they are (or 2 − 1) and 4 (or 22) times the frequency, respectively. However, 300 Hz is not a whole number octave above 100 Hz, despite being a harmonic of 100 Hz.

Đoạn trên có thể chia ra làm thought groups bởi nhữnh dấu /, và focus word (để giữa hai dấu ) như sau (tôi không biết làm cách nào để sử dụng hiệu ứng của Microsoft Word ở đây):

[For example]/ if one [note] [has] a [frequency] of [400] Hz/ the note [an] octave [above] it is at [800] Hz/ and the note an octave [below] is at [200] Hz/ The [ratio] of frequencies of two notes [an] octave [apart]/ is [therefore] [2:1]. [Further] octaves of a note [occur] at [2^n] [times] the frequency of that note/ (where n is an [integer])/, [such as] [2],/ [4],/ [8],/ [16],/ etc./ [and] the [reciprocal] of that [series]./ [For example],/ 50 Hz and 400 Hz [are] [one] and [two] octaves [away] from 100 Hz/ [because] they are ½ (or 2^1) and 4 (or 2^2) times the frequency, /[respectively]./ [However],/ [300] Hz is [not] a [whole number] octave above 100 Hz, /[despite] being a [harmonic] of 100 Hz.

*********************************************************************

Updated on March 1, 2008

3a) Định nghĩa thought group:

Thought group la một nhóm các từ, thường có đủ nghĩa, có chủ từ và động từ. Một số dấu hiệu để nhận thấy bắt đầu thought groups là:

_Sau những dấu câu như chấm hỏi ngã nặng…Lý do vì sao thì dễ thấy

_Sau những transition words như: and, or, however, but…Lý do là vì những từ này có thể bắt đầu một ý khác

_Mệnh đề tính từ (sau “that”)…

Chẳng hạn ta xét đoạn sau:

After the unison, the octave is the simplest interval in music. The human ear tends to hear both notes as being essentially “the same”. For this reason, notes an octave apart are given the same note name in the Western system of music notation—the name of a note an octave above A is also A. This is called octave equivalency, and is closely related to harmonics. This is similar to enharmonic equivalency, and less so transpositional equivalency and, less still, inversional equivalency, the latter of which is generally used only in counterpoint, musical set theory, or atonal theory. Thus all C♯s, or all 1s (if C=0), in any octave are part of the same pitch class. Octave equivalency is a part of most musics, but is far from universal in “primitive” and early music (e.g., Nettl, 1956; Sachs & Kunst, 1962). However, monkeys experience octave equivalency, and its biological basis apparently is an octave mapping of neurons in the auditory thalamus of the mammalian brain [1] and the perception of octave equivalency in self-organizing neural networks can form through exposure to pitched notes, without any tutoring, this being derived from the acoustical structure of those notes (Bharucha 2003, cited in Fineberg 2006).

Có thể phân nó thành thought groups như sau:

After the unison,/ the octave is the simplest interval in music./ The human ear tends to hear both notes/ as being essentially “the same”./ For this reason,/ notes an octave apart are given the same note name in the Western system of music notation/—the name of a note an octave above A is also A/. This is called octave equivalency,/ and is closely related to harmonics./ This is similar to enharmonic equivalency,/ and less so transpositional equivalency/ and, less still,/ inversional equivalency,/ the latter of which is generally used only in counterpoint,/ musical set theory,/ or atonal theory./ Thus all C♯s,/ or all 1s /(if C=0)/, in any octave are part of the same pitch class./ Octave equivalency is a part of most musics,/ but is far from universal in “primitive” and early music/ (e.g., Nettl, 1956; Sachs & Kunst, 1962)/. However,/ monkeys experience octave equivalency,/ and its biological basis apparently is an octave mapping/ of neurons in the auditory thalamus of the mammalian brain [1]/ and the perception of octave equivalency in self-organizing neural networks/ can form through exposure to pitched notes,/ without any tutoring,/ this being derived from the acoustical structure of those notes /(Bharucha 2003, cited in Fineberg 2006)./

Rule 1: Cố gắng đọc một cách liên tục những từ trong cùng một thought group.

Rule 2: Đừng chia talk groups ngắn quá (làm người nghe cảm thấy câu văn trúc trắc), hay dài quá (vì bạn phải có đủ hơi để đọc một mạch)

Rule 3: Nên có một khoảng ngừng ngắn khi kết thúc một thought group

Rule 4: có một số cấu trúc song song như A and B, C and D thì không nên chọn thought group bắt đầu từ “and”

Rule 5: bạn có thể chọn thought group linh hoạt theo ý bạn

3b) Focus word: Focus word là những từ mang ý nghĩa chính của một thought group. Có thể nói như sau: Nếu trong một đoạn văn bạn bỏ hết các từ khác, chỉ giữ lại focus word thì người nghe vẫn hiểu được.

Những từ thường là focus word là:

_Động từ

_Tính từ

_Transition word (như and, but, however…)

_Những danh từ xuất hiện lần đầu

_Từ phản thân (them-self…)

Ví dụ trong đoạn trên nếu chỉ giữ lại focus words thì như sau

After unison,/ octave simplest interval music./ human ear tends hear both notes/ as being essentially “same”./ For this reason,/ notes octave apart given same name Western system notation/—name note an octave above also/. called equivalency,/ and closely related harmonics./ similar enharmonic,/ and less so transpositional/ and, less still,/ inversional,/ latter generally used only counterpoint,/ musical set theory,/ or atonal/ Thus all C♯s,/ or all /(if C=0)/, any octave part same pitch class./ Octave equivalency part most musics,/ but far from universal “primitive” and early/ (e.g., Nettl, 1956; Sachs & Kunst, 1962)/. However,/ monkeys experience,/ and its biological basis apparently an octave mapping/ neurons auditory thalamus mammalian brain / and perception of octave self-organizing neural networks/ can form exposure pitched notes,/ without any tutoring,/ being derived acoustical structure those notes /(Bharucha 2003, cited in Fineberg 2006)./

Rule: nhấn mạnh focus word bằng cách đọc to hơn…so với những từ khác

Bổ sung: nhấn mạnh -self trong them-self

*********************************************************************

Updated on March 10, 2008

Trình bày rõ hơn về các âm tiếng Anh:

1. Consonants

a. Làm sao phát âm một âm Stop (gồm p/b,t/d,k/g)?

Theo định nghĩa thì: Stop là “the air flow moves, then stop, then moves again”. Như vậy để đọc chữ p thì cho luồng hơi di chuyển, nhưng trước khi luồng hơi ra khỏi miệng thì ngừng lại một chút, rồi cho luồng hơi di chuyển trở lại.

b) Fricative (f/v,s/z,h và thêm 4 âm klhác nhưng tôi không biết cách nào để viết): luồng hơi cũng bị chận lại nhưng không hoàn toàn như stop, do đó tạo ra âm thanh giống như tiếng ồn (noisy)

c) Affricative (tS, dZ): là kết hợp giữa stop và ffricative. Sở dĩ như vậy là vì 2 âm thuộc về loại này gồm một âm stop + 1 âm fricative. Chẳng hạn như tS (giống như âm ch) của Việt Nam, là gồm một âm stop (t)+1 âm fricative (S). Âm còn lại là dZ gần giống âm tr của Việt Nam. Cách đọc là đọc âm t rồi sau đó đọc âm S. điểm khác biệt giữa âm tS và âm ch Việt Nam là: âm tS có thêm luồng hơi, trong khi đó người Việt Nam khi phát âm ch thì không có thêm luồng hơi phát ra.

Việc óhat ra luồng hơi là rất quan trọng: nếu bạn đọc âm k(voicedless) mà không có luồng hơi phát ra thì người Mỹ sẽ nghĩ dó là âm g (voiced).

2. Vowels:

Vowels được chia ra theo 3 tiêu chí:

High/mid/low: Tiêu chí này dựa theo khi bạn phát âm thì vị trí của gò mà (jaw) là cao hay thấp. chẳng hạn âm i trong beat thì tương ứng với high. Chú ý là nếu jaw là high thì moth is fairly closed, trong khi nếu jaw là low thì mouth là fairly open.

Tense/lax: Tiêu chi này được dựa trên độ căng của mặt và cổ.
Tense means face and neck are tight, while Lax means face and neck are relax. Dựa vào tiêu chí này phân biệt i trong beat và i trong bit.

Front/central/back: Tiêu chí này dựa trên vị trí lưỡi cũa bạn. Tuy nhiên theo lời của giáo sư Anh văn của tôi thì tiêu chí này không quan trọng.

Gợi ý về tài liệu: Một tài liệu tốt để học Anh văn là cuốn sách Accuracy English.

Hint: Khi bạn bắt đầu tập nói tiếng Anh hãy chọn những đoạn văn tiếng Anh, chia nó ra thành thought groups và focus word rồi đọc. Nghe thêm những đoạn đọc trong trang web sau

http://www.americanrhetoric.com/

*********************************************************************

Updated on

Numerical Expressions: A guide to Pronunciation

When I attended one English course (the first course) at WSU, they gave me this document (I put it in the attached file, you can see the link below). This will help you pronounce some basic mathematical symbols, numbers, time, years, temperature and some other measurements. This is very simple but important. Be sure that you pronounce them fluently before learning to speak complicated symbols and expressions.

a-guide-to-pronunciation.pdf

Vietnamese – English saying

Bài này là để chúng ta tập hợp các cách nói kiểu Việt Nam và cách nói kiểu Mĩ tương ứng. Tất cả mọi người đều có thể đóng góp bằng cách post comment 🙂